Lật tẩy mánh lới những kẻ tuyên truyền thông tin sai lệch vẫn dùng để qua mặt khoa học

Nhận thấy sự nguy hiểm của những kẻ loan thông tin sai lệch trong thời điểm hiện tại, nhóm các nhà khoa học đả đưa ra một nghiên cứu cụ thể, t́m ra cách thức kẻ xấu sử dụng các thông tin này và phương cách để ngăn chặn họ.

Lúc đó là vào thập niên 50, các chuyên gia về sức khỏe đả đưa ra lo ngại rằng, thuốc lá là tác nhân gây ra ung thư. Rồi vào năm 1952, tạp chí nổi tiếng thời bấy giờ, Reader’s Digest đăng tải bài viết "Ung thư đến từ từng hộp b́a giấy", mô tả những bằng chứng cho thấy thuốc lá ảnh hưởng nặng nề tới cơ thể con người. Bài viết gây shock moi người dân Mỹ, tất cả báo, radio bị náo loạn v́ sự thật bất ngờ này. Bây giờ là năm 2019, chúng ta đă biết quá rơ cái tác hại của những cái que gây nghiện và chết người.
Thế nhưng những đạo luật cấm thuốc là vẫn ́ ạch đóng bụi trên bàn giấy, và chỉ có vài luật hạn chế thuốc lá xuất hiện 40 năm sau khi bài báo đáng sợ được đăng tải trên Reader’s Digest.



Rất dễ nhận ra lư do tại sao, thậm chí các lư do này được tổng hợp lại để viết thành sách. Đó chính là những ǵ mà Naomi Oreskes và Erik Conway đă làm năm 2010: họ xuất bản cuốn sách "Merchants of Doubts" (Những con buôn của sự hồ nghi), vạch ra bộ mặt của ngành công nghiệp thuốc lá đă cố gắng lấp liếm sự thật trong nhiều thập niên qua. Ngành thuốc lá t́m đủ mọi cách để che dấu, bao bọc các chứng cứ gây ra ung thư bằng những sự nghi vấn, khiến người dùng không biết đâu mà lần ṃ.

Các công ty sản xuất thuốc lá và các giới truyền thông công chúng đả hợp sức tài lực, dựng lên cái Ủy ban Nghiên cứu Ngành Công nghiệp Thuốc lá (TIRC), nhằm mục đích đưa ra những tuyên bố cho rằng thuốc lá không có khả năng khiến cho người dùng bị tử vong. Chính các chiến thuật đánh lạc hướng này khi thành công đă tŕ hoăn các đạo luật liên quan tới việc cấm thuốc lá lẽ ra đả có hiệu lực sớm hơn.

Tất cả những bằng chứng khoa học đều được chứng minh cụ thể rơ ràng những nguy hại của thuốc lá, nhưng những cuộc tranh luận, những ư kiến trái chiều dựa trên các cơ sở mơ hồ đă khiến đại đa số quần chúng mất phương hướng, mù mờ giữa rừng "giả và thật".



Oreskes và Conway cho rằng những kẻ dựng nên các chiến thuật ngăn ngừa luật cấm thuốc lá được thành công xưa kia cũng chính là những người đứng đằng sau các ư kiến trái chiều về sự biến đổi khí hậu hiện vẩn c̣n gây tranh cải.

Cùng lúc đó, xă hội lại dấy thêm lên một câu hỏi khác: Những kẻ hiểm độc đánh lạc hướng các nhận định khoa học của đám đông như thế nào?

Câu trả lời bạn nên t́m kiếm đến từ Jamas Owen Weatherall, Cailin O’Connor từ Đại học ở California, Justin Bruner đến từ Đại học Quốc gia Úc; họ cùng nhau tạo ra một mô h́nh giả lập máy tính cho thấy cách thức đi đến sự nhất trí ư kiến về khoa học h́nh thành ra sao, rồi xem xét tới cách thức sự đồng ḷng đó ảnh hưởng lên các chính sách có liên quan.

Họ đả nghiên cứu sâu hơn để trả lời câu hỏi tại sao sự thật lại có thể bị biến tướng dễ dàng đến thế, và những kẻ gieo rắc giả dối đă sử dụng những kỹ năng ǵ để đạt được mục đích của họ. Họ phát hiện ra cách thức thay đổi sự thật của thời đại mới rất tinh vi, rất xảo quyệt hơn nhiều so với cái âm mưu về việc ngăn chận các đạo luật cấm thuốc lá xưa kia.

"Ví dụ, vào năm 1954, TIRC phân phát một mẩu tin nhỏ, tựa đề 'Một góc nh́n khoa học về các tranh căi chung quanh thuốc lá', cho gần 200.000 bác sĩ, nhà báo, các nhà lập pháp. Trong mẩu tin, họ nhấn mạnh những nghiên cứu có lợi cho ḿnh, đặt ra nghi vấn cho những thông tin cho rằng thuốc lá có hại", đó là case-study mà nhà nghiên cứu Weatherall và đồng nghiệp đưa ra. Họ gọi đó là "tự tạo thành kiến" (bias production).

Đợt tấn công thứ hai là ủng hộ hết ḿnh những nghiên cứu đơn lẻ đứng về phía quan điểm của bên sản xuất thuốc lá. Ví dụ, họ hết ḿnh ủng hộ nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa amiăng và ung thư phổi, v́ báo cáo khoa học này sẽ chỉ ra thêm những yếu tố gây ung thư phổi khác, chĩa búa ŕu dư luận ra xa khỏi bao thuốc lá thơm ngon. Các nhà nghiên cứu gọi đây là "chia sẻ có chọn lọc" (selective sharing).

Nhóm các nhà khoa học muốn t́m hiểu rơ cách nào mà những phương pháp trên gây ảnh hưởng tới ư kiến của cộng chúng. Để có được việc này, trước hết họ phải có mô h́nh giả lập máy tính cho thấy phương cách khoa học gây ảnh hưởng lên ư kiến của các nhà lập pháp.




Đầu tiên là các nhà khoa học, nhất trí thực hiện sự thử nghiệm và cho phép những kết quả khoa học ảnh hưởng lên cách nh́n nhận vấn đề của ḿnh. Mục tiêu của mỗi nhà khoa học là tạo ra hai giả thuyết, quyết định xem xét, đâu sẽ là giả thuyết có ư nghĩa hơn.

Một giả thuyết sẽ dựa trên "hành động A", đă được hiểu rơ, hiệu quả trong khoảng 50% số lần thử. Nó được liên kết trực tiếp tới giả thuyết A.

Ngược lại, giả thuyết B sẽ dựa trên những hành động thiếu các nghiên cứu và các bằng chứng hậu thuẫn. Các nhà khoa học chưa rơ giả thuyết B hơn hay kém A, nhưng theo lập tŕnh sẵn, th́ thực chất giả thuyết B hiệu quả hơn.

Các nhà khoa học sẽ quan sát thực tế dựa trên giả thuyết có sẵn, không rơ kết quả cuối cùng sẽ ra sao. Vậy nên ngay cả khi chúng ta có sự thật giả thuyết B hiệu quả hơn A, một số kết quả cuối cùng vẫn sẽ ủng hộ A.

Trong giai đoạn đầu tiên của hệ thống giả lập, các nhà khoa học sẽ tin vào những điều khác nhau trong cả hai giả thuyết A và B. Ví dụ, một nhà khoa học có chỉ số tin tưởng 0,7 sẽ tin 70% giả thuyết B là đúng, rồi sẽ áp dụng giả thuyết B vào những ṿng thử nghiệm tương lai.

Sau mỗi ṿng thử nghiệm như vậy, các nhà khoa học sẽ cập nhật xem ḿnh đang tin vào giả thuyết nào, dựa trên kết quả nghiên cứu và các kết quả sẵn có. Thử nghiệm diễn ra liên tục cho tới khi tất cả các nhà khoa học đều tin vào một giả thuyết duy nhất. Bằng cách này, giáo sư Weatherall và cộng sự đả t́m được cách thức nhóm các nhà khoa học t́m ra tiếng nói chung trong nghiên cứu.


Thế nhưng những quan điểm đó có ảnh hưởng ra sao đến nhà lập pháp khi soạn ra các dự luật? Để xác minh, các nhà nghiên cứu tiếp tục tạo ra một nhóm giả lập khác, những nhà lập pháp bị ảnh hưởng bởi ư kiến từ các nhà khoa học, nhưng bản thân họ th́ không tác động ngược lại được các nhà khoa học. Điều tối quan trọng: các nhà lập pháp chỉ tin ở một số lượng nhất định các nhà khoa học.

Các nhà lập pháp khởi đầu ṿng giả lập của ḿnh với một thế giới quan riêng, cập nhật theo từng ṿng khi sử dụng ư kiến từ các nhà khoa học. Nhưng trong mô h́nh này, các nhà lập pháp chỉ là bên nhận ư kiến từ bên ngoài và cập nhật bản thân, mục tiêu chính của nghiên cứu nằm tại nhóm thứ ba.

Weatherall và các cộng sự tạo ra "nhóm tuyên truyền", đây mới là những người có ảnh hưởng lớn lên các nhà lập pháp, và cũng là mục tiêu chính của nghiên cứu: họ muốn xem cách thức gây ảnh hưởng ra sao.

Nhóm tuyên truyền quan sát kỹ các nhà khoa học, liên lạc với tất cả các nhà lập pháp với mục đích thuyết phục họ cái giả thuyết yếu hơn mới chính là sự thật, chính là giả thuyết A trong nghiên cứu này. Họ làm như vậy bằng cách chỉ t́m những nghiên cứu ủng hộ giả thuyết A, và đưa cho nhóm lập pháp xem.


Nhóm tuyên truyền có cách thức làm việc tương tự với hai phương cách đă nêu ở trên, là tự tạo thành kiến (bias production)chia sẻ chọn lọc (selective sharing). Họ tự chọn ra một nhóm các nhà nghiên cứu để tự tạo thành kiến, rồi chọn ra những kết quả có lợi cho đức tin của ḿnh nhất để chia sẻ.

Cả hai cách trên đều tạo ra những ảnh hưởng lớn, theo Weatherall và cộng sự nhận định, chia sẻ chọn lọc có tác dụng tương đương tự tạo thành kiến, và chi phí để chia sẻ chọn lọc thấp hơn nhiều. Chẳng cần tạo bằng chứng giả, chỉ cần chọn ra được kết quả có lợi là "nhóm tuyên truyền" đă đạt được mục đích. Những bằng chứng họ chọn lọc ra được dựa trên những nghiên cứu khoa học thật, nên càng có cơ sở để người chưa hiểu chuyện sẽ nghe theo.

Nói cho cùng, không chỉ những người tuyên truyền thông tin sai lệch đả làm sai lệch cách nh́n nhận khoa học của đám đông. Weatherall và cộng sự chỉ ra những nhà báo khoa học cũng cố gắng t́m ra những kết quả hay ho trong một báo cáo nghiên cứu. Áp lực phải t́m những mẩu tin thú vị khiến họ làm như vậy và có khi c̣n ảnh hưởng nhiều đến các nhà lập pháp. Tuy nhiên, chưa rơ ảnh hưởng của việc chọn tin thú vị để đăng tải ảnh hưởng ra sao tới thế giới thực tế.

Sư khám phá của nhóm nghiên cứu sẽ có tác động mạnh mẽ lên cuộc sống mà chúng ta vẫn biết. "Người ta có thể vẫn tưởng rằng việc tự tạo ra thành kiến sẽ tác động mạnh tđến cộng đồng hơn việc chia sẻ lại thông tin từ người khác. Nhưng thực tế, bằng chứng cho thấy chiến thuật tinh vi, kín đáo hơn lại có hiệu quả tốt hơn nhiều".


Vấn đề nhức nhối đă rơ ràng và cách giải quyết cũng không phải là quá cao siêu: cần những nghiên cứu lớn hơn, được đầu tư bài bản hơn. Theo Weartherall và cộng sự nhận định, các nhà khoa học dù có nổi tiếng hay không cũng cần được khích lệ, ngay cả khi những nghiên cứu của họ chưa đạt được kết quả như mong muốn.

Điều này sẽ khiến việc chia sẻ chọn lọc khó khăn hơn nhiều, sẽ không c̣n những cá nhân bị ảnh hưởng bởi những kẻ có ư đồ xấu.

Và lại một câu hỏi nữa được đưa ra, ai sẽ là người hưởng lợi từ nghiên cứu của Weatherall và các cộng sự? Là những kẻ tuyên truyền tin giả hay các nhà khoa học, các nhà lập pháp?

Tham khảo MIT Technology Review